{allCategoryIds=, allKeywords=, allTagIds=, andOperator=false, anyCategoryIds=1205946,1205946,1205946, anyKeywords=, anyTagIds=, classNameIds=, classTypeIds=, description=null, end=10, excludeZeroViewCount=false, expirationDate=Sat Apr 04 06:18:10 ICT 2026, groupIds=, keywords=null, linkedAssetEntryId=0, listable=true, notAllCategoryIds=, notAllKeywords=, notAllTagIds=, notAnyCategoryIds=, notAnyKeywords=, notAnyTagIds=, orderByCol1=displayDate, orderByCol2=null, orderByType1=DESC, orderByType2=null, paginationType=null, publishDate=Sat Apr 04 06:18:10 ICT 2026, start=0, title=null, userName=null, visible=true}

TRANG CHỦ / TIN TỨC

ĐẨY NHANH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA (1996-2010)

Giai đoạn đẩy nhanh CNH, HĐH (1996 - 2010), TPHCM đã gia tăng tốc độ phát triển kinh tế, khẳng định vị thế và vai trò của đầu tàu kinh tế Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) và cả nước. Tăng trưởng kinh tế Thành phố đạt tốc độ bình quân 2 con số (1996 - 2000: 10,11%; 2001 - 2005: 11% và 2006 - 2010: 11,18%/năm, giá so sánh năm 1994), đưa Thành phố trở thành một trong số rất ít địa phương của cả nước đạt tốc độ tăng trưởng 2 con số trong thời gian dài. GRDP bình quân đầu người của Thành phố đã tăng từ 700 USD (1996) lên xấp xỉ 5.000 USD (2010). Đây cũng là giai đoạn tăng trưởng kinh tế của Thành phố chuyển biến tích cực từ chiều rộng sang chiều sâu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển biến quan trọng, theo hướng gia tăng khu vực dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao, giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp.

Giai đoạn 1996-2000:
Tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng trưởng bình quân hàng năm 10,2%, gần 1,5 lần so với mức tăng bình quân cả nước; tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có chất lượng cao; đóng góp vào ngân sách Nhà nước ngày càng tăng.
Dịch vụ - thương mại (khu vực III) tiếp tục chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu GDP, phát triển đa dạng theo hướng hiện đại; công nghiệp – xây dựng (khu vực II) vẫn giữ tốc độ tăng trưởng cao nhất. Kinh tế Nhà nước vẫn giữ vị trí chi phối trong các ngành quan trọng, đóng góp trên 45% cơ cấu GDP; kinh tế tư nhân đã giải quyết hơn 60% việc làm cho người lao động; khu vực có vốn đầu tư từ nước ngoài vẫn tăng trưởng khá, đóng góp trên 18% cơ cấu GDP, chiếm trên 19% kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn.
Các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ đã góp phần tăng năng suất lao động, thúc đẩy tiến độ hiện đại hoá thành phố và khu vực phía Nam. Hoạt động khoa học xã hội và nhân văn đã cung cấp một số cơ sở khoa học cho các giải pháp về kinh tế, văn hoá, xã hội.
Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thành phố được nâng lên. Thu nhập thực tế của người dân tăng bình quân 5%/năm; tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân đầu người đạt 1.365 USD; các nhu cầu thiết yếu của nhân dân được cải thiện.

Giai đoạn 2001-2005:
Kinh tế trên địa bàn Thành phố đạt tốc độ tăng trưởng cao; các nguồn nội lực được phát huy; cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch đúng hướng; các loại thị trường từng bước phát triển và mở rộng.
Tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên địa bàn liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước. Tốc độ tăng trưởng bình quân cơ bản đạt mục tiêu đề ra (11%/năm). Cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có lợi thế cạnh tranh (cơ khí, nhựa - cao su, dịch vụ tài chính - ngân hàng - bảo hiểm, khoa học - công nghệ, giáo dục, y tế…).
Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển. Kinh tế nhà nước được sắp xếp lại theo chương trình trọng điểm do Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ VII đề ra, hoạt động có hiệu quả hơn. Kinh tế tập thể từng bước được củng cố. Kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng trưởng khá.
Tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn tăng dần qua từng năm, đạt khoảng 200.000 tỷ đồng (13 tỷ USD) và đạt mức bình quân 35% GDP. Chủ trương xã hội hóa đầu tư được thực hiện có kết quả, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm khoảng 17% tổng đầu tư của xã hội; các hình thức huy động vốn đa dạng; khai thác có hiệu quả các nguồn thu ngân sách khác ngoài thuế và phí. Thị trường vốn trên địa bàn Thành phố phát triển nhanh và lành mạnh.
Xuất khẩu trên địa bàn tăng bình quân 14,5%/năm. Tổng kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm đạt 41 tỷ USD; thị trường xuất khẩu được mở rộng, nhất là thị trường mới ở Bắc Mỹ, Châu Âu. Tỷ trọng sản phẩm công nghiệp (không kể dầu thô) trong cơ cấu hàng xuất khẩu ngày càng tăng.
Môi trường kinh doanh và đầu tư được cải thiện. Sự năng động, sáng tạo trong đời sống kinh tế Thành phố tiếp tục được phát huy, đóng góp tích cực vào sự phát triển Thành phố và một số địa phương thông qua quan hệ hợp tác. Vị trí vai trò trung tâm kinh tế của Thành phố đối với khu vực và cả nước tiếp tục được khẳng định.
Khoa học và công nghệ ngày càng có vai trò quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng sức cạnh tranh. Chương trình Công viên phần mềm Quang Trung và Khu công nghệ cao, Khu nông nghiệp kỹ thuật cao đã và đang được triển khai xây dựng. Sự gắn kết giữa khoa học với phát triển kinh tế - xã hội có bước tiến bộ mới, tỉ lệ ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học ngày càng tăng; sự liên kết giữa các doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu và cơ quan quản lý Nhà nước được chú trọng; bước đầu hình thành thị trường công nghệ.

Giai đoạn 2006-2010:
Kinh tế trên địa bàn thành phố đạt tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, các nguồn lực xã hội được phát huy, các ngành, lĩnh vực đều phát triển, góp phần cùng Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.
Mặc dù do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố bình quân 5 năm chỉ đạt 11%, thấp hơn chỉ tiêu đề ra, nhưng là mức tăng cao so với bối cảnh chung. Quy mô kinh tế thành phố đến năm 2010 bằng 1,7 lần năm 2005, GDP bình quân đầu người năm 2010 ước 2.800 USD, bằng 1,68 lần năm 2005. Chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế bước đầu đạt kết quả tích cực, theo hướng tăng dần tỉ trọng các ngành có giá trị gia tăng và hàm lượng khoa học - công nghệ cao. Các ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng 12%/năm, các ngành dịch vụ có lợi thế cạnh tranh, giá trị gia tăng cao tiếp tục phát triển mạnh; giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 bằng 1,85 lần giai đoạn 2001 - 2005; 4 ngành công nghiệp trọng yếu: cơ khí chế tạo, điện tử - công nghệ thông tin, hóa chất, chế biến tinh lương thực, thực phẩm chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong giá trị sản xuất công nghiệp. Nông nghiệp chuyển dịch tích cực theo hướng nông nghiệp đô thị, năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế tăng lên.
Qua sắp xếp, đổi mới, tuy số lượng và tỉ trọng đóng góp của các doanh nghiệp nhà nước trong kinh tế thành phố giảm, nhưng quy mô và hiệu quả tăng lên. Kinh tế tư nhân phát triển nhanh, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế, giải quyết việc làm và thu ngân sách. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang chuyển dần sang các ngành thâm dụng vốn và khoa học - công nghệ, đóng góp ngày càng nhiều vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tổng vốn đầu tư xã hội tiếp tục tăng cao, đa dạng hóa các hình thức huy động với việc phát huy vai trò "vốn mồi" của Nhà nước. Thu ngân sách hàng năm đều vượt chỉ tiêu nộp ngân sách do Trung ương giao, đóng góp trên 30% ngân sách quốc gia.

Từ khoá

Bình luận

Bình lận, ý kiến của bạn

Asset Publisher

TIN MỚI NHẤT